Nông nghiệp Quảng Trị phát triển toàn diện

Thứ ba - 22/07/2014 03:37
Với diện tích đất nông nghiệp chiếm 80,38% đất tự nhiên và khoảng 75,6% cư dân của tỉnh sống ở vùng nông thôn, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 27,9% cơ cấu kinh tế của tỉnh, tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp tỉnh những năm gần đây khoảng 3 - 4,5%/năm... nền kinh tế nông nghiệp Quảng Trị vẫn được xác định là có vị trí quan trọng đảm bảo sự ổn định xã hội, tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng CNH, HĐH. Từ đó, tỉnh tập trung chỉ đạo và đầu tư các nguồn lực cần thiết cho ngành nông nghiệp nhằm khai thác tốt lợi thế đất đai và lao động để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao.
Đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng tăng hiệu quả sản xuất
Đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng tăng hiệu quả sản xuất
Trong những năm qua cùng với sự đi lên của tỉnh, tình hình phát triển nông nghiệp của Quảng Trị đã đạt được những kết quả quan trọng. Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng, con nuôi không ngừng tăng lên. Tổng sản lượng lương thực có hạt những năm gần đây khá cao, năm 2012 là năm đạt sản lượng lương thực cao nhất trên 25,2 vạn tấn. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, thâm canh, chuyên canh để tăng giá trị trên một đơn vị diện tích.

Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2011, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt bình quân 67,5 triệu đồng/ha, tăng gần 4 lần so với năm 2005, trong đó giá trị sản xuất cây lâu năm đạt trên 93 triệu đồng/ha, giá trị nuôi trồng thuỷ sản đạt trên 141 triệu đồng/ha.
Trên cơ sở lợi thế về đất đai, lao động và sự thúc đẩy xây dựng vùng nguyên liệu cho các nhà máy, Quảng Trị đã tạo ra được các vùng sản xuất chuyên canh rộng lớn với sản phẩm có chất lượng cao. Sự hình thành các vùng chuyên canh mang lại nhiều lợi ích lớn trong tất cả các khâu từ đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Chi phí sản xuất theo đó được giảm xuống và hiệu quả sản xuất được nâng lên.

Để đáp ứng được sản xuất nông nghiệp với quy mô lớn, trình độ sản xuất và quản lý sản xuất của nông dân cũng phải được chú trọng nâng cao. Vì vậy, công tác tập huấn chuyển giao các tiến bộ KHKT tăng cường liên tục thu hút đông đảo nông dân tham gia. Nhờ đó, trình độ canh tác và nhận thức của nông dân được nâng cao rõ rệt. Những ứng dụng KHKT đã làm thay đổi cơ bản chất lượng sản xuất của ngành nông nghiệp Quảng Trị.

Đáng chú ý nhất là tiến bộ về giống đã đưa sản phẩm ngành nông nghiệp của tỉnh tăng nhanh về cả số lượng lẫn chất lượng. Với diện tích lúa nước không nhiều 48.940 ha/năm, nhưng nhờ sự đầu tư thâm canh cao, nhất là xây dựng vùng lúa chất lượng cao 12.716 ha mỗi vụ, sản xuất lúa ở Quảng Trị đã vượt ra xa mục tiêu đảm bảo được an ninh lương thực, tạo ra được thương hiệu gạo thơm, ngon, dẻo được người tiêu dùng ưa chuộng.

Sản phẩm cà phê chè catimor Hướng Hoá sau khi khẳng định uy tín chất lượng tại thị trường nhiều nước đã đầu tư để tăng nhanh số lượng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, phấn đấu xây dựng thành công thương hiệu cà phê Khe Sanh. Bình quân mỗi năm 4.949 ha cà phê tập trung ở vùng núi Hướng Hóa cho sản lượng 7.310 tấn.

Hơn 19.188 ha cao su, mỗi năm cho sản lượng hơn 14.350 tấn. Vùng hồ tiêu Cam Lộ, Gio Linh và Vĩnh Linh với tổng diện tích 2.005 ha cho sản lượng 1.959 tấn/năm. Gần 10.725 ha sắn ở phía Nam Hướng Hóa, Hải Lăng, Triệu Phong và Cam Lộ đã đáp ứng tốt nhu cầu mỗi năm hơn 168.000 tấn nguyên liệu cho các nhà máy đã góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân. Hàng năm, toàn tỉnh trồng mới từ 5.500- 6.000 ha rừng không chỉ nâng cao độ che phủ rừng lên 47% (năm 2013) mà còn cho sản lượng gỗ rừng trồng đạt 453.000 m3, đưa lại cho nông dân những khoản thu nhập đáng kể giúp cho họ yên tâm với nghề rừng....

Trong chăn nuôi, việc ứng dụng các tiến bộ KHKT đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đến nay tỷ lệ đàn bò lai đạt hơn 27%, tỷ lệ đàn lợn nuôi thịt theo hướng nạc đạt trên 94%. So với năm 1990, đến năm 2013 tổng các đàn gia súc, gia cầm tăng trên 56%; sản lượng thịt hơi tăng 2,26 lần.

        Về phát triển thuỷ sản, những năm qua việc nuôi tôm sú và tôm chân trắng đã trở thành thế mạnh ở một số địa phương. Mặc dù còn một số khó khăn về giống, vốn đầu tư và trình độ thâm canh, nhưng hiệu quả kinh tế thu được khá cao. Tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đến nay đạt hơn 7.600 tấn/năm. Về khai thác thủy sản, đến nay toàn tỉnh có đội tàu thuyền đánh bắt 2.136 chiếc với tổng công suất 48.175 CV, hàng năm khai thác hơn khoảng 18.000 tấn hải sản.

         Sự hình thành các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp tạo ra các vùng nguyên liệu ổn định phục vụ cho công nghiệp chế biến phát triển, từ đó cũng làm thay đổi đáng kể đời sống của nông dân, ngày càng xuất hiện nhiều hơn những “triệu phú” nông dân làm giàu từ nông sản hàng hóa. Để tạo được những vùng chuyên canh bền vững, tỉnh đã đầu tư khá đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống như các công trình điện, thuỷ lợi, giao thông nông thôn...

        Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, toàn tỉnh có 100% số xã, 97% thôn và 98,3% hộ có điện, có hơn 800 km trong tổng số 1.988 km kênh mương trên địa bàn các xã, được kiên cố hóa, 86,3% xã có đường nhựa, bê tông, chiều dài đường trục xã, liên xã 1.314,6 km…

         Tỉnh cũng đã quan tâm xây dựng các công trình thủy lợi nhỏ cho miền núi để tăng cường tưới cho vùng sâu, vùng xa. Việc đầu tư xây dựng tốt hệ thống CSHT phục vụ sản xuất nông nghiệp đã làm chuyển đổi cơ bản điều kiện sản xuất nông nghiệp, tạo sự chủ động trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Các chính sách khuyến nông, khuyến công được đẩy mạnh góp phần thúc đẩy nông nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển. Nền nông nghiệp Quảng Trị trong quá trình hình thành các vùng chuyên canh ngoài mục tiêu lợi ích kinh tế còn quan tâm đến tính bền vững, yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái, bởi sản phẩm nông nghiệp có giá trị hàng hóa cao phải đạt các yếu tố về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm.

         Cơ cấu kinh tế nông thôn đang có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng hộ ngành nghề và dịch vụ được tăng lên, nếu năm 2006 hộ ngành nghề dịch vụ chỉ chiếm 21,34% trong tổng số hộ nông nghiệp, nông thôn thì đến năm 2012 chiếm 28,35%, ngược lại tỷ lệ hộ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản giảm từ 78,66% năm 2006 xuống còn 71,65% năm 2012.

         So với cách đây 5 năm thì số hộ công nghiệp tăng lên 39,1%, hộ xây dựng tăng 68,3%, thương nghiệp tăng 8,6%, hộ vận tải tăng 62,1%, hộ dịch vụ tăng 75,4%. Các hình thức tổ chức kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn từng bước đổi mới, phát triển phù hợp với cơ chế thị trường, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của nông dân.

        Chương trình xây dựng nông thôn mới được cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vào cuộc, sự đồng tình ủng hộ và hăng hái tham gia của người dân nên đạt được những kết quả thiết thực. Các ngành, địa phương đã chủ động lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án để đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới các công trình thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh. Nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả đang được triển khai, nhân rộng, góp phần tăng thu nhập cho người dân ở nông thôn. Văn hóa, xã hội vùng nông thôn chuyển biến theo hướng tích cực, môi trường ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đến nay, toàn tỉnh có 4 xã đạt 15 - 18 tiêu chí, 31 xã đạt 10 - 14 tiêu chí, 67 xã đạt 5 - 9 tiêu chí và 15 xã đạt dưới 5 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

        Nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn mới đặt ra nặng nề, thời cơ xen lẫn thách thức, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường diễn ra gay gắt, quyết liệt hơn. Từ những kết quả đã đạt được và kinh nghiệm thực tiễn rút ra trong mấy chục năm qua, bước vào thời kỳ mới, nông nghiệp Quảng Trị tập trung huy động nhiều nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp về kinh tế, kỹ thuật để phát triển toàn diện và bền vững. Giữ ổn định diện tích lúa 2 vụ, mở rộng vùng lúa chất lượng cao, đảm bảo an ninh lương thực trước mắt và lâu dài, nâng cao giá trị lương thực hàng hóa.
 
         Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đảm bảo cho trên 75% diện lúa ăn chắc 2 vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thâm canh và mở rộng diện tích cây công nghiệp dài ngày ở những vùng có lợi thế. Cần thực hiện đồng bộ và giải pháp của đề án phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, thâm canh với đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường. Thực hiện những chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn cho người chăn nuôi nhằm đưa ngành chăn nuôi phát triển ổn định đảm bảo cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu đầu tư hợp lý, tránh những lãng phí, phát huy hiệu quả đồng vốn đầu tư trong nông nghiệp.

         Thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư của Chính phủ và tích cực kêu gọi các dự án đầu tư quốc tế và trong nước về phát triển rừng để đạt được chỉ tiêu đề ra.

         Về thủy sản, tiếp tục phát huy thế mạnh nuôi tôm chân trắng trên cát, nuôi thuỷ sản nước ngọt đầu tư thâm canh đảm bảo an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững. Tăng cường năng lực đánh bắt trung và xa bờ; thực hiện tốt nhiệm vụ dịch vụ hậu cần nghề cá, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn biển.

          Đẩy mạnh việc ứng dụng các tiến bộ KHCN vào sản xuất. Tổ chức sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường. Phát triển mô hình sản xuất, chế biến nông lâm, thuỷ sản sạch, xây dựng điểm sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chất lượng sản phẩm tốt. Thực hiện xúc tiến thương mại tiêu thụ nông sản hàng hoá, lựa chọn xây dựng thương hiệu một số nông sản có giá trị của Quảng Trị để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Thực hiện liên kết chặt chẽ 4 nhà trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng CN-TTCN, ngành nghề và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

         Phát triển nông nghiệp không thể tách rời với quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh nhà nước đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp, nông thôn thì cần có sự tham gia của toàn xã hội, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mỗi người dân để đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.

          Quy hoạch nguồn nhân lực của ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh với những chỉ tiêu, mục tiêu cụ thể, hàng năm cần có sự khảo sát nắm chắc nhu cầu số lượng, chất lượng nguồn nhân lực từ đó tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho nông dân.

          Tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế trong nông thôn Nhất là kinh tế hợp tác và HTX, phát triển kinh tế trang trại, gia trại nhằm tăng nhanh sản phẩm hàng hoá, làm tốt dịch vụ đầu vào và đầu ra cho nông dân yên tâm phát triển sản xuất.

          Kịp thời cụ thể hoá và thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho nông dân phát triển sản xuất hàng hoá để làm giàu, mặt khác thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ kịp thời cho nông dân khi có thiên tai, dịch bệnh.

         Cùng với nhiều chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn Đảng bộ và sự nỗ lực phấn đấu của nông dân; nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quảng Trị sẽ có bước đổi mới, phát triển toàn diện theo hướng CNH, HĐH, góp phần tích cực vào sự phát triển nền KT-XH của tỉnh.


 

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Con số ấn tượng
52
Là số xã đạt chuẩn Nông thôn mới
15,07
Là số tiêu chí đạt Nông thôn mới bình quân của tỉnh
3 xã đạt chuẩn kiểu mẫu 
(xã Vĩnh Kim, Vĩnh Thủy, Cam Chính: đạt chuẩn ntm kiểu mẫu năm 2019)
Liên kế website
Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập57
  • Hôm nay4,499
  • Tháng hiện tại74,928
  • Tổng lượt truy cập3,205,629
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây